Thursday, January 29, 2015

Bảo tàng nghệ thuật Kimbell



The Kimbell Art Museum in Fort Worth, Texas, hosts a small but excellent art collection as well as traveling art exhibitions, educational programs and an extensive research library. Its initial artwork came from the private collection of Kay and Velma Kimbell, who also provided funds for a new building to house it.

Bảo tàng Nghệ thuật Kimbell ở Fort Worth, Texas, sở hữu một bộ sưu tập nghệ thuật nhỏ nhưng tuyệt vời cũng như để đến tham quan triển lãm nghệ thuật, tham gia các chương trình giáo dục và một thư viện nghiên cứu mở rộng. Các tác phẩm nghệ thuật ban đầu của  bảo tàng từ các bộ sưu tập cá nhân của Kay và Velma Kimbell, đồng thời cũng là những người đã đầu tư kinh phí để xây dựng một trung tâm mới để lưu giữ chúng.

The Kimbell Art Museum’s original building, designed by Louis Kahn and opened to the public for the first time in 1972, has become a mecca of modern architecture. It is especially noted for the wash of silvery natural light across its vaulted gallery ceilings.

Nguyên bản của công trình Bảo tàng Nghệ thuật Kimbell, được thiết kế bởi Louis Kahn và được mở cửa cho công chúng lần đầu tiên vào năm 1972, đã trở thành một thánh địa của kiến trúc hiện đại. Nó được đặc biệt chú ý vì khả năng lọc ánh sáng tự nhiên màu bạc xuyên qua các mái vòm của khu trưng bày.

One of the architect’s fundamental tasks is formulating the structure, or arrangement of forms, that the building will assume. Each architect has an individual approach to developing that initial concept. Kahn is often quoted as first asking, “What does this building want to be?” He believed that the essence of the structure started with the room, and thinking about how that space would be used and how it should feel. From that point, the building evolved as a “family of rooms” with a simple plan based on classical proportion, repetition, and variation.
The museum is composed of 16 parallel vaults that are each 100 feet (30.6 m) long, 20 feet (6 m) high and 20 feet (6 m) wide (internal measurements). Intervening low channels separate the vaults. The vaults are grouped into three wings. The north and south wings each have six vaults, with the western one open as a portico. The central space has four vaults, with the western one open as an entry porch facing a courtyard partially enclosed by the two outside wings.

Các bảo tàng gồm 16 mái vòm song song mà mỗi mái dài 30,6 m, cao 6 m và rộng 6 m (trong lòng). Các rãnh thấp ở giữa phân chia các mái. Các mái vòm được nhóm lại thành ba cánh. Cánh phía bắc và phía nam có sáu vòm, một mái vòm ở phía Tây mở ra như một mái hiên. Không gian trung tâm có bốn mái vòm, với một mái vòm ở phía Tây mở như một hiên thập đối diện với một sân trong bao bọc bởi hai cánh bên ngoài.

With one exception, the art galleries are located on the upper floor of the museum to allow access to natural light. Service and curatorial spaces as well as an additional gallery occupy the ground floor. Each interior vault has a slot along its apex to allow natural light into the galleries. Air ducts and other mechanical services are located in the flat channels between the vaults.

Với một ngoại lệ, các phòng trưng bày nghệ thuật được đặt trên tầng trên của bảo tàng để cho phép tiếp cận được ánh sáng tự nhiên. Không gian dịch vụ và giám tuyển cũng như một phòng trưng bày thêm được bố trí ở tầng trệt. Mỗi mái vòm có một khe dọc đỉnh của nó để cho phép ánh sáng tự nhiên đi vào phòng trưng bày. Đường ống dẫn khí và các dịch vụ cơ khí khác được đặt trong rãnh phẳng giữa các mái vòm.
  
Kahn used several techniques to give the galleries an inviting atmosphere. The ends of the vaults, which are made of concrete block, are faced with travertine inside and out. The museum has three glass-walled courtyards that bring natural light to the gallery spaces. One of them penetrates the gallery floor to bring natural light to the conservation studio on the ground floor.

Bảo tàng có ba sảnh bao quanh bằng tường vách kính mang lại ánh sáng tự nhiên cho các không gian trưng bày. Một trong số chúng “ăn” cả vào tầng trưng bày triển lãm để đưa ánh sáng tự nhiên đến khu vực lưu trữ ở tầng trệt. Kahn sử dụng một số kỹ thuật để làm cho các phòng trưng bày một bầu không khí lôi cuốn. Các đầu hồi của mái vòm được làm bằng bê tông ốp đá vôi cả mặt trong và mặt ngoài.

The landscaping has been described as "Kahn's most elegant built example of landscape planning" by Philadelphia landscape architect George Patton. Approaching the main entrance past a lawn edged by pools with running water, the visitor enters a courtyard through a grove of Yaupon holly trees. The sound of footsteps on the gravel walkway echoes from the walls on either side of the courtyard and is magnified under the curved ceiling of the entry porch. After that subtle preparation, the visitor enters the hushed museum with silvery light spread across its ceiling.

Cảnh quan của bảo tàng được kiến trúc sư cảnh quan Philadelphia George Patton cho là "thanh lịch nhất của Kahn, một thiết kế cảnh quan điển hình". Lối vào chính đi qua một bãi cỏ có đường biên là những hồ nước chảy, khách tham quan phải đi qua một hang cây nhựa ruồi để vào sân. Những âm thanh từ bước chân trên lối đi rải sỏi dội vang lại từ các bức tường ở hai bên sân và được phóng đại bởi mái trần cong của cổng vòm. Sau giai đoạn chuẩn bị tinh tế đó, khách tham quan đi vào không gian tĩnh lặng của bảo tàng với ánh sáng sang màu bạc lan tỏa trên các mái trần.
  
STRUCTURE
KẾT CẤU

 “The room is the beginning of architecture.” -   Louis I. Kahn
“Căn phòng là nơi bắt đầu của kiến trúc” - Louis I. Kahn


Một trong những nhiệm vụ cơ bản của kiến trúc sư là tạo lập được cấu trúc, hoặc sắp xếp các hình thức, mà công trình sẽ có. Mỗi kiến trúc sư có một cách tiếp cận cá nhân để phát triển là ý tưởng ban đầu. Kahn thường được trích dẫn với câu hỏi đầu tiên, "Công trình này muốn trở thành cái gì?". Ông tin rằng bản chất của cấu trúc bắt đầu từ những căn phòng, về cách mà không gian đó sẽ được sử dụng như thế nào và cảm giác nó mang lại. Từ đó, các công trình phát triển thành "tập hợp của những căn phòng có quan hệ mật thiết" với một mặt bằng đơn giản dựa trên tỷ lệ cổ điển, sự lặp lại, và biến thể.
           
In the case of the Kimbell, director Richard Brown provided an initial list of important considerations for generating ideas for the structure. In that “Pre-Architectural Program,” Brown specifically stated that “natural light should play a vital part in illumination.” This stipulation, along with Kahn’s own strong interest in the use of natural light, resulted in Kahn’s early concept of a room with a vaulted ceiling that would allow natural light to enter the space from above. The vault also appealed to Kahn’s admiration for ancient structures—from Roman arches and storage warehouses to Egyptian granaries.

Trong trường hợp của bảo tàng Kimbell, giám đốc Bảo tàng, Richard Brown đã đưa ra một danh sách những tiêu chí quan trọng để xây dựng ý tưởng cho công trình. Trong "Nhiệm vụ thiết kế kiến trúc," Brown nêu cụ thể rằng "ánh sáng tự nhiên cần đóng vai trò quan trọng trong việc chiếu sáng." Quy định này, cùng với sự quan tâm sâu sắc của Kahn trong việc sử dụng ánh sáng tự nhiên, dẫn đến ý tưởng ban đầu của Kahn của là căn phòng với mái vòm sẽ cho phép ánh sáng tự nhiên từ bên trên chiếu xuống. Mái vòm cũng là cấu trúc mà Kahn yêu thích từ những công trình vòm La Lã và kho chứa của Ai Cập cổ đại.

Kahn's first design for the galleries called for angular vaults of folded concrete plates with light slots at the top. Brown liked the light slots but rejected this particular design because it had the ceilings 30 feet (9 m) high, too high for the museum he envisioned.

Thiết kế đầu tiên của Kahn cho các phòng trưng bày là các mái vòm dạng góc thẳng bằng các tấm bê tông gấp khúc có khe lấy sang trên đỉnh. Brown thích các khe ánh sáng, nhưng từ chối bản thiết kế đặc biệt này bởi vì nó có trần cao 9 m, ông nghĩ là nó quá cao đối với các bảo tàng.

Further research by Marshall Meyers, Kahn's project architect for the Kimbell museum, revealed that using acycloid curve for the gallery vaults would reduce the ceiling height and provide other benefits as well. By mathematical definition, the cycloid is the curve traced by a point on the circumference of a circle that rolls on a straight line without slipping. The relatively flat cycloid curve would produce elegant galleries that were wide in proportion to their height, allowing the ceiling to be lowered to 20 feet (6 m). More importantly, that curve could also be used to produce a beautiful distribution of natural light from a slot in the top of the gallery across the entire gallery ceiling.

Nghiên cứu sâu hơn của Marshall Meyers, kiến trúc sư ở dự án của Kahn ở bảo tàng Kimbell tiết lộ rằng việc sử dụng đường cong acycloid cho mái vòm phòng triển lãm sẽ làm giảm chiều cao trần nhà cũng như tạo ra các hiệu quả khác. Theo định nghĩa toán học, đường cycloid là những đường cong bắt nguồn bởi một điểm trên chu vi của một vòng tròn lăn trên một đường thẳng mà không bị trượt. Các đường cong tương đối thấp sẽ tạo cho phòng trưng bày sự trang nhã có chiều rộng tương ứng với chiều cao của chúng, cho phép giảm độ cao mái vòm còn 6 m. Quan trọng hơn, đường cong này còn có thể được sử dụng để phân phối ánh sáng tự nhiên đi vào từ một khe lấy sáng ở phía trên lên toàn bộ mái trần phòng triển lãm.
   
 As opposed to semicircular vaults, the cycloid vault has gently rising sides that give the impression of monumentality without overpowering the visitor. This geometric form is capable of supporting its own weight and has been likened to an eggshell for its ability to withstand heavy pressure. At the Kimbell, the weight for each vault is directed through four corner columns measuring two square feet. Unlike classical precedents, Kahn’s vaults are interrupted at the top by skylights and require concrete struts that connect the shells at ten-foot intervals. Additionally, Kahn and his engineers placed long steel cables inside along the length of each vault. After the concrete had hardened for a week, hydraulic jacks were used tighten the cables to create a system of post-tensioning that distributes and supports the weight of the roof—similar to a suspension bridge.
  
Khác với vòm hình bán nguyệt, vòm hình cycloid vươn lên nhẹ nhàng từ hai bên tạo cho khách tham quan cảm giác hoành tráng mà không gây ra sự chế ngự. Hình dạng này của vòm có khả năng tự chịu được trọng lượng bản thân nó và được ví như vỏ trứng với khả năng chịu được áp lực lớn. Tại bảo tàng Kimbell, trọng lượng cho mỗi mái vòm được truyền xuống bốn cột góc có diện tích khoảng 0,19m2.. Không giống như các công trình cổ điển, mái vòm của Kahn được tạo khoảng trống ở trên đỉnh để cho ánh sáng ngoài trời và, do đó, phải có 10 thanh giằng bê tông nối hai bên vòm. Ngoài ra, Kahn và các kỹ sư của ông đã đặt cáp bên trong dọc theo chiều dài của mỗi mái vòm. Sau một tuần, khi bê tông đã đông cứng, các kích thủy lực được sử dụng để kéo các dây cáp, tạo ra kết cấu dự ứng lực tương tự nhằm phân phối và đỡ trọng lượng của mái, tương tự như ở cầu treo.

Kahn was pleased with this development because it allowed him to design the museum with galleries that resembled the ancient Roman vaults he had always admired. The thin, curved shells needed for the roof were challenging to build, however, so Kahn called in a leading authority on concrete construction, August Komendant, with whom he had worked before (and who, like Kahn, was born in Estonia). Kahn generally referred to the museum's roof form as a vault, but Komendant explained that it was actually a shell playing the role of a beam. More precisely, as professor Steven Fleming points out, the shells that form the gallery roofs are "post-tensioned curved concrete beams, spanning an incredible 100 feet" (30.5 m).

Kahn hài lòng với phương án này bởi vì nó cho phép ông thiết kế bảo tàng với các phòng trưng bày giống với loại vòm La Mã cổ đại mà ông luôn ngưỡng mộ. Các mái cong, mỏng là một thử thách cho việc xây dựng, vì vậy Kahn đã liên hệ với kỹ sư hàng đầu về xây dựng bê tông, August Komendant, người mà ông đã từng làm việc trước đây (và giống như Kahn, ông sinh ra tại Estonia). Kahn thường gọi hình thức mái của bảo tàng là mái vòm, nhưng Komendant giải thích rằng nó thực sự đóng vai trò là một dầm. Chính xác hơn, như giáo sư Steven Fleming chỉ ra, các tấm vỏ tạo nên mái của phòng triển làm là "dầm cong dự ứng lực bê tông, vượt qua khẩu độ đáng kinh ngạc 30,5 m”.
           
Like classical buildings (such as the Parthenon), the Kimbell’s structure is based on a consistent mathematical model. The basic plan is composed of sixteen cycloid vaults (100 x 20 feet) that are arranged in three parallel units of six, four, and six in the Kimbell. Other elements are based on a ratio of 20 to 10. For example, on the floor, wood sections measure 20 feet and travertine sections are 10 feet. The building is based on these “rules” of logic, enabling the visitor to easily follow and “read” the structure.

Tương tự các công trình cổ điển (như đền Parthenon), kết cấu của bảo tàng Kimbell được dựa trên một mô hình toán học thích hợp. Các mặt bằng chính của bảo tàng Kimbell có mười sáu mái vòm cycloid (30,5 x 6,1 m) được sắp xếp trong ba khối song song song song với nhau tương ứng gồm sáu, bốn, và sáu mái vòm. Các bộ phận khác đều dựa trên một tỷ lệ 2:1. Ví dụ, trên sàn, diện tích phần gỗ rộng 6,1 m và phần đá là 3,05 m. Công trình tuân theo những "quy tắc" của logic, cho phép khách tham quan dễ dàng theo dõi và "đọc" được cấu trúc của bảo tàng.

True vaults, such as the Roman vaults that Kahn admired, will collapse if not supported along the entire lengths of each side. Not fully understanding the capabilities of modern concrete shells, Kahn initially planned to include many more support columns than were necessary for the gallery roofs. Komendant was able to use post-tensioned concrete that was only five inches thick to create gallery "vaults" that need support columns only at their four corners.

Những mái vòm thực sự, như mái vòm kiểu La Mã mà Kahn ngưỡng mộ, sẽ sụp đổ nếu nó không được chống đỡ dọc theo toàn bộ chiều dài của mỗi bên. Không hiểu đầy đủ khả năng của vỏ bê tông hiện đại, ban đầu Kahn dự định cần có nhiều cột chống đỡ hơn cho kết cấu mái của các phòng triển lãm. Komendant đã sử dụng bê tông dự ứng lực dày chỉ hơn 12cm để tạo ra những mái vòm phòng triển lãm mà chỉ cần 4 cột chống ở bốn góc.

The Geren firm, which had been asked to look for ways to keep costs low, objected that the cycloid vaults would be too expensive and urged a flat roof instead. Kahn, however, insisted on a vaulted roof, which would enable him to create galleries with a comforting, room-like atmosphere yet with minimal need for columns or other internal structures that would reduce the museum's flexibility. Eventually a deal was struck whereby Geren would be responsible for the foundation and basement while Komendant would be responsible for the upper floors and cycloid shells. Kahn placed one of these shells at the front of each of the three wings as a porch or portico to illustrate how the building was constructed. The effect was, in his words, "like a piece of sculpture outside the building." The vault roofs, which are visible to approaching visitors, were covered with lead sheathing inspired by the lead covering of the complexly curved roofs of the Doge's Palace and St. Mark's Basilica in Venice, Italy.

Hãng Geren, đơn vị được yêu cầu phải tìm mọi cách để giữ chi phí thấp, đã phản đối rằng các mái vòm cycloid sẽ quá tốn kém và kêu gọi dùng mái bằng thay thế. Tuy nhiên Kahn khẳng định là một mái vòm sẽ cho phép tạo ra các phòng trưng bày thoải mái như đứng dưới bầu trời với số lượng tối thiểu các cột hay các kết cấu khác mà sẽ làm giảm tính linh hoạt của bảo tàng. Cuối cùng một thỏa thuận đã được lập ra, theo đó Geren sẽ chịu trách nhiệm cho phần móng và tầng hầm, trong khi Komendant sẽ chịu trách nhiệm cho các tầng trên và vỏ mái cycloid. Kahn đã đặt một trong những mái vòm ở phía trước của mỗi cánh làm thành mái hiên hoặc để minh họa cho cách tòa nhà được xây dựng. Hiệu quả là, theo lời ông, "giống như một mảnh điêu khắc bên ngoài tòa nhà." Những mái vòm mà khách tham quan có thể nhận ran ngay khi đến gần bảo tàng được bao bọc bằng chì, theo cảm hứng từ những mái cong phức tạp của Cung điện Doge và Nhà thờ St.Mark’s Basilica ở Venice, Italy.
     
Although the structure is based on a simple plan of unadorned, repeated forms, Kahn also introduced variations on those basic forms and “themes.” The porticos at the Kimbell’s entrance on the west side of the building first introduce the vault to the approaching visitor and demonstrate the form’s versatility. Within the Museum, visitors see that vaults cover the galleries, an auditorium, and the Buffet Restaurant. Kahn also varied the size of the courtyards. The North courtyard is 40 square feet, while the South courtyard is 20 square feet.

Mặc dù cấu trúc này được dựa trên mặt bằng đơn giản không có trang trí, các hình thức được lặp lại, nhưng Kahn đã tạo ra các biến thể từ những hình thức cơ bản và "các yếu tố chủ đạo." Các mái cổng ở lối vào của bảo tàng Kimbell ở phía tây đã giới thiệu về những mái vòm và trình diễn về sự linh hoạt của hình thức cho khách tham quan ngay trước khi đi đến Bảo tàng. Bên trong bảo tàng, khách tham quan có thể nhận ra các mái vòm bao trùm khu trưng bày như một thính phòng hay một nhà hàng buffet. Kahn cũng đã thay đổi kích thước của các sân. Sân phía Bắc rộng 3,7m2 , trong khi các sân phía Nam là 1,9 m2.
        
The “rooms” were designed to relate to the visitor on an intimate level to enhance their experience of the artworks on view. The space, in fact, was designed to be as flexible as possible within the confines of the vaulted spaces. Moveable walls can be attached to the soffits (the underside joint between arches) in various configurations to best suit the Museum’s display needs.

Các "căn phòng" được thiết kế để có sự liên hệ gần gũi với khách tham quan để tăng cường cảm nhận của họ về các tác phẩm nghệ thuật khi tham quan. Trên thực tế, các không gian đã được thiết kế linh hoạt nhất có thể trong giới hạn bên dưới những mái vòm. Các bức tường di động có thể được gắn vào mặt dưới (khớp nối bên dưới ở giữa các mái vòm) theo các cách khác nhau để phù hợp nhất với nhu cầu trưng bày của Bảo tàng.

MATERIALS
VẬT LIỆU

“Natural materials have a way of blending together.”—Louis I. Kahn
"Các vật liệu tự nhiên có cách tự pha trộn được với nhau." - Louis I. Kahn

To make a structure that will stand the test of time, architects choose materials that are strong and durable, as well as pleasing to the eye. Kahn preferred simple forms and natural materials. To achieve a sense of serenity and elegance in the Kimbell, Kahn selected materials that complemented each other in tone and surface: travertine, concrete, white oak, metal, and glass. Simple and unadorned, each of these materials shows its innate character by its variation of texture.

Để xây dựng một một công trình có thể đứng vững trước thử thách của thời gian, kiến trúc sư lựa phải chọn các vật liệu bền, chắc cũng như đạt được thẩm mỹ. Kahn ưa thích các hình thức đơn giản và vật liệu tự nhiên. Để tạo ra cảm giác thanh lịch và sang trọng ở bảo tàng Kimbell, Kahn đã chọn các vật liệu tương hỗ nhau về sắc độ và bề mặt như: đá, bê tông, gỗ sồi trắng, kim loại và thủy tinh. Đơn giản và không trang trí, mỗi loại vật liệu bộc lộ các tính chất tự nhiên sẵn có của mình theo sự biến đổi bố cục của chúng.
           
Concrete, according to Kahn, was “a noble material if used nobly.” Revolutionizing the modern use of materials, Kahn viewed concrete as both an aesthetic and structural choice. In the Kimbell’s galleries, concrete vaults shimmer with light to create a subtle luminosity that Kahn compared to a “silvery powdered moth’s wing.” Reinforced concrete also supports the weight of the structure in the form of vaults, walls, and piers. Creating the right look to the concrete was a matter of serious importance to Kahn, who went to great lengths to select the proper color (soft gray with lavender tones) determined by the mixture of sand and cement. Numerous wall tests were poured and allowed to cure in the Texas sun until they found the right surface qualities and perfect match for the soft tones of the travertine. Kahn believed that buildings should tell the story of how they were made and that incidents of the construction process should be left as a visual record. Accordingly, when they occurred, marks from plywood mold forms, bits of rubber, and air pockets remain for all to see (although the workmen practiced to attain perfection).

Theo Kahn, bê tông là "một vật liệu cao quý nếu nó được sử dụng một cách khéo léo." Đột phá trong cách sử dụng hiện đại với các loại vật liệu, Kahn xem bê tông cụ thể vừa là sự lựa chọn của kết cấu vừa là của thẩm mỹ. Trong các phòng trưng bày của bảo tàng Kimbell, các mái vòm bằng bê tông tỏa ánh sáng mờ ảo lung linh ạo ra một độ sáng tinh tế mà Kahn đã so sánh với một "cánh bướm được phủ lớp bột bằng bạc." Bê tông cốt thép chịu lực của các kết cấu vòm, tường, và cột chống. Tạo được cái nhìn đúng đắn về bê tông là một vấn đề hết sức quan trọng đối với Kahn, người đã dày công tìm kiếm màu sắc thích hợp (màu xám nhẹ với sắc xanh nhạt hơi pha đỏ) được tạo ra bằng hỗn hợp cát và xi măng. Một số bức tường bê tông thử nghiệm đã được thi công và điều chỉnh ở Texas cho đến khi họ đạt được đúng chất lượng bề mặt cần tìm và kết hợp hoàn hảo với các sắc màu nhẹ nhàng của đá travertine. Kahn tin rằng công trình sẽ kể câu chuyện về cách thức mà nó đã được xây dựng thực hiện và các lỗi trong quá trình xây dựng nên được để lại như một dấu tích trực quan. Theo đó, khi chúng xảy ra, toàn bộ những dấu vết của các ván khuôn gỗ ép, bịt cao su, và các túi khí vẫn còn lưu lại cho mọi người thấy (mặc dù các công nhân hoàn thành công việc một cách hoàn hảo).
           
Travertine, on the other hand, acts only as “in-fill” material. Kahn even called it wall paper. (Glass and wood are also non-weight-bearing materials in the Museum.) The travertine (a type of colored limestone) used for the Kimbell was imported from Tivoli, near Rome, Italy. This material is riddled with irregularly shaped holes left by gases and pieces of vegetation trapped in hardened layers of calcium carbonate. Despite its “Swiss-cheese” texture, travertine is a durable material and has been used since antiquity for countless buildings. Kahn was deeply influenced by monuments and ancient ruins that he studied as a student and sketched on his travels through Italy, Greece, and Egypt. In his own buildings, Kahn used such materials as travertine to emulate the timeless and monolithic qualities he so admired in those ancient structures. Over one million pounds of travertine sheath much of the Kimbell’s interior and exterior walls, gallery floors, porches, and stairs. These thin, rough-hewn pre-cut slabs (5/8 inches thick) were shipped from Italy in 17 boatloads over nine months. Fissures and openings were not filled. Every attempt was made to retain the material’s natural appearance.

Mặt khác, đá travertine chỉ đóng vai trò là vật liệu bổ trợ. Kahn thậm chí gọi đó là tường bằng giấy. (Thủy tinh và gỗ này cũng không là vật liệu chính trong Bảo tàng.) Đá travertine (một loại đá vôi màu) được sử dụng cho bảo tàng Kimbell được nhập khẩu từ Tivoli, gần Rome, Italy. Vật liệu này có các lỗ thủng với hình dạng bất thường do khí và các mảnh thảm thực vật bị mắc lại trong các lớp canxi cacbonat đã hóa cứng. Mặc dù có cấu trúc kiểu "pho mát Thụy Sỹ", đá travertine là một vật liệu bền và được sử dụng từ thời cổ đại cho rất nhiều các công trình. Kahn đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các di tích cổ đại mà ông đã nghiên cứu khi là một sinh viên và vẽ phác thảo trên chuyến đi đến Ý, Hy Lạp và Ai Cập. Trong các công trình của mình, Kahn đã sử dụng các vật liệu như đá travertine để mô tả những phẩm chất vượt thời gian và nguyên khối mà ông rất ngưỡng mộ trong những cấu trúc cổ xưa. Hơn một triệu pound (đơn vị cân của nước Anh, 453,6 tấn) đá travertine được dùng để ốp tường nội thất và ngoại thất tường, sàn phòng trưng bày, tiền sảnh, cầu thang ở bảo tàng Kimbell. Những tấm đá thô, mỏng (dày 1,6cm) được cắt sẵn và vận chuyển từ nước Ý bằng 17 chuyến tàu trong hơn chín tháng. Những vết nứt và khe hở đã không được trám giấu đi. Họ đã nỗ lực để giữ được vẻ tự nhiên của vật liệu.
  
Lead was selected for the roof cover for its color, dull sheen, and discreet, natural appearance. Because this soft metal ages quickly, Kahn believed that it would look consistent with the travertine and concrete. In keeping with his palette of warm and cool tonal harmonies, Kahn also selected white oak for the gallery floors, doors, and cabinetry; anodized aluminum (a light-weight metal noted for its high reflectivity that has been covered with a protective oxide coating) for the soffits and reflectors; and mill-finished steel for windows and door frames, elevators, and handrails, as well as in the kitchen, conservation studio, and darkroom. The Kimbell’s uniquely shaped handrails are made of folded metal, because Kahn preferred emphasizing the sheet quality of the material instead of pretending that it was worked like a solid material, such as wood.

Chì được chọn để phủ lên mái để tạo ra màu sắc xám xịt của mái, với vẻ bên ngoài mộc mạc, tự nhiên. Do kim loại mềm này sẽ bị xỉn nhanh chóng, Kahn tin rằng trông nó sẽ tương thích với đá travertine và bê tông. Để giữ được sự hài hòa màu sắc giữa nóng và lạnh, Kahn cũng đã lựa chọn gỗ sồi trắng cho các tầng trưng bày, cửa ra vào, và tủ gỗ; nhôm mạ (phủ lớp oxit) cho các mặt dưới và các tấm phản xạ; và thép đã gia công hoàn thiện trong nhà máy cho các cửa sổ, khung cửa, thang máy, và tay vịn, cũng như trong nhà bếp, phòng lưu trữ, và buồng tối. Tay vịn của bảo tàng Kimbell có hình dạng độc đáo được làm từ kim loại được uốn cong, vì Kahn nhấn mạnh việc ưu tiên tính chất của tấm thay vì làm ra vẻ nó đã được làm từ một vật liệu đặc giống như gỗ.

LIGHTS
ÁNH SÁNG

“No space, architecturally, is a space unless it has natural light.”- Louis I. Kahn

"Không gian là kiến trúc chỉ khi nào nó có ánh sáng tự nhiên." - Louis I. Kahn

A person’s experience of an architectural space is shaped by many factors, including its scale, proportions, plan, and use of materials. In many buildings, and especially at the Kimbell Art Museum, light performs a crucial role—illuminating the space and creating a mood. In his teachings and designs, Louis Kahn constantly stressed the importance of light in relation to structure. Natural light, “dynamic, ever-changing,” he preferred above all other sources of illumination.

Trải nghiệm của một người trong một không gian kiến trúc được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả quy mô, tỷ lệ, mặt bằng, và cách sử dụng vật liệu. Trong nhiều công trình, và đặc biệt là tại Bảo tàng Nghệ thuật Kimbell, ánh sáng đóng một vai trò rất quan trọng - chiếu sáng không gian và tạo nên giai điệu. Trong lý thuyết và thiết kế của mình, Louis Kahn liên tục nhấn mạnh tầm quan trọng của ánh sáng liên quan đến cấu trúc. Ánh sáng tự nhiên, "năng động, luôn thay đổi," là thứ ông ưa thích trên tất cả các nguồn chiếu sáng khác.
           
Many museum designs primarily rely on artificial lighting to prevent direct sunlight from damaging priceless and delicate works of art. Kimbell director Richard Brown, however, felt that natural light should be used to illuminate museum spaces so that visitors may be able to relate to nature and the effects of changing weather while inside the Kimbell. This type of lighting also enables the visitor to see the work of art more similarly to the way it would have been viewed by its creator, under conditions of natural light. Kahn and Brown met well on this topic, which became the inspiration for Kahn’s concept of the cycloid vault with “narrow slits to the sky” that allowed natural light to enter and transform the space. However, the works of art are not illuminated entirely by natural light - lamps bolster the daylight to give a mixture of natural and artificial light that is ideal for viewing works of art.
           
Nhiều thiết kế bảo tàng chủ yếu dựa vào ánh sáng nhân tạo để ngăn chặn ánh sáng mặt trời trực tiếp sẽ làm hỏng tác phẩm tinh tế và vô giá của nghệ thuật. Tuy nhiên, Giám đốc Kimbell Richard Brown thấy rằng ánh sáng tự nhiên nên được sử dụng để chiếu sáng không gian bảo tàng giúp cho du khách có thể tiếp xúc với thiên nhiên và cảm nhận sự thay đổi của thời tiết khi ở bên trong bảo tàng Kimbell. Đây là loại ánh sáng cho phép khách tham quan chiêm ngưỡng các tác phẩm nghệ thuật tương tự như cách mà tác giả đã nhìn nó trong điều kiện ánh sáng tự nhiên. Kahn và Brown có chung quan điểm về vấn đề này, đã tạo nguồn cảm hứng cho ý tưởng của Kahn về các mái vòm cycloid với "khe hẹp liên thông với bầu trời" cho phép ánh sáng tự nhiên đi xuống và biến đổi không gian. Tuy nhiên, không phải các tác phẩm nghệ thuật được chiếu sáng hoàn toàn ánh sáng tự nhiên mà được tăng cường bằng đèn chiếu, sự pha trộn giữa ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo làm cho điều kiện chiêm ngưỡng các các tác phẩm nghệ thuật trở nên hoàn hảo.
  
In order to allow light to enter the space without endangering precious artworks, Kahn envisioned a metal “reflector” or “shield” that would be placed directly beneath the skylights to reflect sunlight onto the smooth, gray, curved surface of the vault. As if by magic, the light would transform the surface, creating a silvery luminosity that filtered down and filled the space below without harming the Museum’s collection.

Để ánh sáng ngoài trời đi vào không gian trưng bày mà không gây nguy hiểm cho tác phẩm nghệ thuật quý giá, Kahn đã hình dung một "tấm phản xạ" hoặc "lá chắn" bằng kim loại sẽ được đặt trực tiếp bên dưới cửa sổ trần để phản xạ ánh ánh sáng mặt trời lên bề mặt màu xám, cong trơn tru của các các. Như một phép màu, ánh sáng sẽ làm biến đổi bề mặt, tạo ra một ánh sáng màu bạc được lọc và tràn xuống không gian bên dưới mà không làm tổn hại đến bộ sưu tập của Bảo tàng.

Creating a natural lighting system was challenging, and Kahn's office and the lighting designer Richard Kelly investigated over 100 approaches in their search for the proper skylight system. The goal was to illuminate the galleries with indirect natural light while excluding all direct sunlight, which would damage the artwork. Richard Kelly, lighting consultant, determined that a reflecting screen made of perforated anodized aluminum with a specific curve could be used to distribute natural light evenly across the cycloid curve of the ceiling. He hired a computer expert to determine the exact shape of the reflector's curve, making it one of the first architectural elements ever to be designed with computer technology.

Tạo ra một hệ thống chiếu sáng tự nhiên là một thách thức, văn phòng của Kahn và nhà thiết kế ánh sáng Richard Kelly đã thử nghiệm hơn 100 cách tiếp cận trong việc tìm kiếm các hệ thống tạo được ánh sáng tự nhiên một cách thích hợp. Mục đích là để chiếu sáng phòng trưng bày bằng ánh sáng tự nhiên gián tiếp trong khi loại trừ tất cả  ánh sáng mặt trời trực tiếp mà sẽ làm hỏng tác phẩm nghệ thuật. Richard Kelly, chuyên gia tư vấn chiếu sáng, xác định rằng phản chiếu ánh sáng bằng một tấm ngăn làm bằng nhôm mạ điện được làm cong với độ độ cong nhất định có thể được áp dụng để phân phối ánh sáng tự nhiên đồng đều giữa các đường cong cycloid của trần nhà. Ông đã thuê một chuyên gia máy tính để xác định hình dạng chính xác của các đường cong phản xạ, làm cho nó trở thành một trong những bộ phận  kiến trúc đầu tiên được thiết kế bằng công nghệ máy tính.

For works of art that require very low levels of light (drawings or Asian scroll paintings, for example), black felt can be used to cover the skylights to further reduce the amount of light reflected into the gallery.

Đối với tác phẩm nghệ thuật yêu cầu cường độ sáng thấp (như bản vẽ hay tranh cuộn châu Á), các cửa sổ trần sẽ được phủ bằng nỉ đen để giảm lượng ánh sáng phản xạ vào trong phòng trưng bày.
  
Kahn incorporated slender lunettes at either end of each vault for more light. The lunette also acts as an important element that separates distinct parts of the structure and is, in turn, shaped by those parts. Its underside echoes the cycloid, while the topside is shaped by the concrete shell that thickens at its apex. Therefore, the topside of each lunette expands at the bottom and becomes thinner at the top. Light slots run along the entire bottom length of the vault to allow indirect sunlight to enter Museum spaces.

Kahn còn kết hợp với các khe mảnh hình bán nguyệt ở hai đầu của mỗi mái vòm để lấy được nhiều ánh sáng hơn.. Các khe hình bán nguyệt cũng đóng vai trò là một yếu tố quan trọng chia tách các phần riêng biệt của kết cấu và tại vị trí gãy góc giữa những bộ phận đó. Cạnh bên dưới lặp lại dạng đường cycloid, trong khi cạnh trên được tạo hình bởi tấm vỏ bê tông được làm dày hơn ở đỉnh. Do đó, các khe hình bán nguyệt rộng ở hai đầu phía dưới và hẹp hơn ở đỉnh. Các khe sáng chạy dọc theo toàn bộ chiều dài đáy mái vòm cho phép ánh sáng mặt trời gián tiếp đi vào không gian Bảo tàng.

Kahn also designed three courtyards, named after the kind of light that he anticipated that their proportions, foliation, or sky reflections would give: Green, Yellow, and Blue Courts. Visitors can easily recognize the Green Court, with its vine roofing, or the Blue Court, with a splashing fountain that reflects sky and water off its travertine enclosure. The large Yellow Court is situated next to the Kimbell’s conservation studio.

Kahn cũng đã thiết kế ba sân, được đặt tên theo loại ánh sáng mà ông dự đoán rằng tỷ lệ, sự phân tách, hoặc sự phản chiếu trên bầu trời của chúng sẽ tạo ra các khoảng sân: Sân màu Xanh lá cây, Sân màu Vàng, và Sân màu Xanh da trời. Khách tham quan có thể dễ dàng nhận ra Sân màu Xanh lá cây với giàn mái các cây nho, hoặc Sân màu Xanh da trời với một đài phun nước bắn tung tóe phản chiếu bầu trời và nước tràn ra ngoài bờ thềm bằng đá travertine. Sân màu Vàng rộng lớn nằm bên cạnh phòng lưu trữ của bảo tàng Kimbell.

David Brownlee and David DeLong, authors of Louis I. Kahn: In The Realm of Architecture, declare that "in Fort Worth, Kahn created a skylight system without peer in the history of architecture." Robert McCarter, author of Louis I. Kahn, says the entry gallery is "one of the most beautiful spaces ever built," with its "astonishing, ethereal, silver-colored light." Carter Wiseman, author of Louis I. Kahn: Beyond Time and Style, said that "the light in the Kimbell gallery assumed an almost ethereal quality, and has been the distinguishing factor in its fame ever since."

David Brownlee và David DeLong, tác giả của cuốn sách “Louis I. Kahn: Trong vương quốc kiến trúc”, tuyên bố rằng "ở Fort Worth, Kahn đã tạo ra một hệ thống ánh sáng tự nhiên mà không có đồng đẳng trong lịch sử kiến trúc." Robert McCarter, tác giả của “Louis I. Kahn”, cho biết các lối vào phòng triển lãm là "một trong những không gian đẹp nhất từng được xây dựng," vì vẻ đẹp "đáng kinh ngạc, thanh tao, ánh sáng màu bạc" của nó. Carter Wiseman, tác giả của “Louis I. Kahn: Vượt lên thời đại và phong cách”, nói rằng "ánh sáng trong các phòng triển lãm của bảo tàng Kimbell đã mang một vẻ thoát tục, và đã trở thành yếu tố đặc trưng cho sự nổi tiếng của bảo tàng.

In areas without art, such as the lobby, cafeteria and library, the entire reflector is perforated, making it possible for people standing beneath to glimpse passing clouds. In the gallery spaces, the central part of the reflector, which is directly beneath the sun, is solid. The concrete surfaces of the ceiling were given a high finish to further assist the reflection of the light. The end result is that the strong Texas sun enters a narrow slot at the top of each vault and is evenly reflected from a curved screen across the entire arc of the polished concrete ceiling, ensuring a beautiful distribution of natural light that had never before been achieved.


Trong khu vực không trưng bày nghệ thuật, như sảnh, phòng ăn, thư viện, toàn bộ các tấm phản xạ được khoét thủng, làm cho người đứng bên dưới có thể ngắm nhìn những đám mây trôi qua. Trong không gian trưng bày nghệ thuật, phần giữa của các tấm phản xạ, là nơi mặt trời chiếu sáng trực tiếp, là phần đặc. Bề mặt bê tông của các mái vòm được hoàn thiện kỹ lưỡng để tiếp tục phản xạ ánh sáng. Kết quả cuối cùng là ánh sáng mặt trời chói chang của vùng Texas đi vào một khe hẹp ở đỉnh của mỗi mái vòm và được phản xạ đều lên toàn bộ mái vòm, điều mà chưa ai từng làm được trước đó.

No comments:

Post a Comment